(ảnh minh họa).
 
Gần đây đã có nhiều bài báo đề cập đến vấn đề nên đa dạng hóa ngoại tệ trong thanh toán quốc tế cũng như vấn đề găm giữ đồng USD trong nền kinh tế Việt Nam.

Thị trường quốc tế ưa chuộng đồng tiền nào?

Báo cáo của Mỹ, Anh, Canada và Singapore cho thấy đồng USD vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong các giao dịch ngoại hối. Nhìn vào thị trường ngoại hối lớn nhất thế giới và thị trường ngoại hối Singapore - một thị trường ngoại hối lớn ở khu vực Đông Nam Á, điều dễ nhận thấy là USD liên quan đến hơn 70% số giao dịch giao ngay được thực hiện.

Đương nhiên, các giao dịch giao ngay này không chỉ có giao dịch thương mại, mà còn có các giao dịch về đầu tư, đầu cơ, hỗ trợ thanh khoản...

Nhưng số liệu giao dịch giao ngay có thể phản ánh ở một mức độ nhất định vai trò của USD trong thanh toán quốc tế ở Anh và Singapore (những số liệu về hợp đồng phái sinh, bao gồm cả số liệu liên quan đến hoán đổi tiền tệ - currency swap, hoán đổi ngoại hối - foreign exchange swap, hợp đồng kỳ hạn - outright forward, quyền chọn - option, đều được loại bỏ).

Nhiều chuyên gia kinh tế đã cho rằng đa dạng hóa thanh toán bằng ngoại tệ có thể giúp giải quyết áp lực lên cặp tỷ giá USD/VND cũng như tình trạng thiếu USD thanh toán của các ngân hàng thương mại.

Tuy nhiên, còn một lợi ích quan trọng khác là nếu doanh nghiệp có thể nắm giữ các loại ngoại tệ khác, ví dụ EUR, GBP, SGD, JPY... thì khi doanh nghiệp dùng các ngoại tệ này để mua USD, ngân hàng có thể bán lại chúng trên thị trường quốc tế để lấy USD mà không phải dựa vào duy nhất các nguồn cung trong nước.

Nói chung, việc thanh toán quốc tế bằng ngoại tệ khác có thể khiến chiếc bánh về giao dịch ngoại hối đa dạng hơn và ít mất cân bằng hơn, đồng thời cũng mở thêm các kênh để ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu về USD cho nền kinh tế.\

Đa dạng hóa ngoại tệ trong thanh toán quốc tế: những trở ngại

Đa phần các ý kiến ủng hộ việc đa dạng hóa ngoại tệ đều chỉ ra được mặt lợi ích của việc làm này. Nhưng lẽ nào những chủ doanh nghiệp nhiều kinh nghiệm không nhận ra điều đó từ sớm? Việc tập trung vào thanh toán bằng USD và thường xuyên phải dựa vào cặp tỷ giá USD/VND có nguyên nhâu sâu xa của nó.

Khả năng áp đặt thanh toán bằng đồng tiền khác của doanh nghiệp

Thực ra, các đối tác của doanh nghiệp trong nước cũng có những lo sợ về rủi ro tỷ giá, và họ có xu hướng lựa chọn những đồng tiền sao cho giảm thiểu rủi ro, hay đáp ứng nhu cầu thanh toán khác của họ.

Như vậy liệu khi phía Việt Nam đề nghị thanh toán bằng EUR, JPY, hay VND thì phía đối tác có dễ dàng chấp nhận chăng? Liệu trong cuộc chơi này, quyền áp đặt đồng tiền thanh toán của các doanh nghiệp trong nước lớn đến đâu?

Vì vậy, lợi ích thanh toán bằng đồng tiền ngoại tệ khác đô la Mỹ là có, nhưng doanh nghiệp có dễ làm được điều đó?

Chiếc ô ổn định tỷ giá USD/VND

Một yếu tố khác cũng hạn chế việc nắm giữ và thanh toán bằng đồng ngoại tệ khác đối với doanh nghiệp Việt Nam là độ biến động của tỷ giá USD/VND thấp hơn nhiều so với độ biến động của VND so với nhiều ngoại tệ khác.

Rõ ràng mức độ biến động của euro/đồng Việt Nam theo ngày cao hơn nhiều lần so với USD/VND và điều này cũng tương tự cho nhiều đồng tiền khác. Vậy nhiều doanh nghiệp thích giữ USD hơn là giữ ngoại tệ khác cũng là lẽ thường.

Bên cạnh đó, tập quán thanh toán bằng đô la Mỹ từ nhiều năm qua cũng tạo ra tâm lý yên tâm hơn khi giữ một đồng tiền quen thuộc thay vì giữ một đồng tiền khác biến động khó lường hơn và xa lạ hơn.

Thị trường ngoại hối Việt Nam: không chỉ thiếu đa dạng trong đồng tiền thanh toán

Đã nhiều lần các ngân hàng Việt Nam cho biết các khách hàng của mình không mặn mà lắm với các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và cũng đã có những nghiên cứu tại Việt Nam chỉ ra những nguyên nhân doanh nghiệp ít dùng sản phẩm phái sinh trong giao dịch. Điều này xem ra trái ngược xu thế của những thị trường vừa đưa ra báo cáo.

Nhìn chung, tại các thị trường này, hợp đồng giao ngay chiếm tỷ trọng không hơn 60% các giao dịch ngoại hối, còn lại là các giao dịch kỳ hạn và hoán đổi chiếm đa số. Các giao dịch quyền chọn chiếm tỷ lệ thấp.

Một nguyên nhân là do các tổ chức tài chính thường giao dịch hoán đổi và kỳ hạn với nhau nhiều, và các doanh nghiệp cũng thường dùng giao dịch kỳ hạn để phòng ngừa rủi ro do tính đơn giản của nó.

Từ những số liệu này, có thể thấy trọng tâm phát triển công cụ phái sinh trên thị trường ngoại hối Việt Nam nên đặt vào hoán đổi và kỳ hạn, là những công cụ có tính phòng ngừa rủi ro cao hơn, hơn là nhắm vào quyền chọn - một công cụ có tính đầu cơ cao hơn và cách tính phí cũng phức tạp hơn.

Mặt khác, cũng cần nhận thấy rằng để có một thị trường ngoại hối phát triển cân bằng hơn cần phải tìm cách trị các căn bệnh ngại dùng sản phẩm phòng ngừa rủi ro và ngại dùng đồng ngoại tệ khác (ngoài đô la Mỹ) trong thanh toán.

Và hai căn bệnh này dường như có liên quan đến nhau và cũng liên quan đến chính sách ổn định tỷ giá và khuyến khích dùng sản phẩm phòng ngừa rủi ro của Việt Nam. Không thể nào để một tỷ giá USD/VND ít biến động quá rồi lại đi kêu gọi người ta đi mua bảo hiểm cho rủi ro tỷ giá.

Và cũng không thể bắt người ta dùng một đồng tiền rủi ro hơn trong thanh toán trong khi thị trường phòng ngừa rủi ro cho đồng tiền đó không phát triển.

Theo Hồ Quốc TuấnThời báo Kinh tế Sài Gòn

Tag :